Ô nhiễm môi trường ở hệ thống sông Nhuệ, sông Đáy là vấn đề đã được đặt ra từ rất lâu, người dân kêu ca rất nhiều, các cơ quan đại diện cho nguyện vọng của nhân dân từ địa phương tới Trung ương cũng đã nhiều lần lên tiếng, thậm chí Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt một đề án và nêu rõ phải xử lý xong vấn đề vào năm 2010. Vậy nhưng, đến nay, câu chuyện dường như vẫn chưa có sự biến chuyển gì. Những dòng sông từng là biểu tượng của thơ ca, nhạc họa vẫn bị bức tử thành những dòng sông chết và gieo rắc những cái chết lơ lửng trên đầu hàng triệu người dân sinh sống trong lưu vực…

O nhiem
Những dòng nước đen ngòm chảy qua các khu dân cư.

Những con sông bị bức tử

Tình trạng ô nhiễm của 2 con sông này đã ảnh hưởng nặng nề đến sinh kế và cuộc sống thường nhật của những người dân trong khu vực. Người ta không thể trồng rau muống bè trên sông, không thể nuôi cá bè trên sông và cũng không thể đánh bắt cá trên sông. Nước sông ô nhiễm tới mức không cá tôm nào sống được. Tỷ lệ người dân sống ở lưu vực 2 con sông này bị ung thư cũng gia tăng đáng kể. Trong những câu chuyện của tôi với người thân, bạn bè và gia đình, tần suất nghe thông tin về người này, người kia ở xã mới phát hiện bị ung thư ngày càng dày hơn…

Trước đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có khảo sát và thống kê về sự ô nhiễm trên 2 dòng sông này. Theo đó, hệ thống sông Nhuệ-Đáy có khoảng 700 nguồn nước thải đổ vào với lưu lượng rất lớn. Tính riêng làng nghề Vạn Phúc (Hà Đông), mỗi ngày đã xả thải ra hệ thống sông này khoảng 1000m3 với nhiều tạp chất tự nhiên tách ra từ vải sợi, chất bẩn, dầu, hợp chất chứa ni-tơ, péc-tin, hồ tinh bột, NaOH, axit Sun-fua-rích, các loại thuốc nhuộm, hóa chất trơ… Trong khi đó, ngoài làng nghề Vạn Phúc, rất nhiều cơ sở dệt nhuộm, sản xuất công nghiệp khác cũng tập trung ven các con sông này. Đấy là chưa kể nguồn nước thải sinh hoạt đổ xuống sông cũng ngày một lớn. Bởi thế, những dòng sông này bị ô nhiễm nặng. Kết quả quan trắc cho thấy, nước sông Nhuệ và sông Đáy không thể dùng để tưới tiêu, nước sông bốc mùi hôi thối. Nước sông tràn vào hệ thống kênh mương đến đâu, cá chết nổi trắng đến đó, cây trồng cũng không thể sống nổi.

Trước thực trạng trên, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ-Đáy đến năm 2020 với 12 dự án ưu tiên và khoảng 3.335 tỷ đồng được đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Đề án đặt ra mục tiêu đến năm 2010, các cơ sở sản xuất, kinh doanh đang hoạt động trên lưu vực sông Đáy-Nhuệ phải xây dựng hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, 100% các cơ sở mới đầu tư xây dựng phải có thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn.

Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm của hệ thống sông Nhuệ-Đáy hiện nay vẫn chưa được khắc phục triệt để. Người dân vẫn chưa thể trở lại nếp sản xuất, sinh hoạt bình thường và trong mọi cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, vấn đề ô nhiễm sông Nhuệ, sông Đáy vẫn liên tục được đưa ra.

“Trong nhiều khóa Quốc hội vừa qua, mỗi khi đi tiếp xúc cử tri thì cử tri Hà Nam đều hỏi bao giờ có thể giải quyết được ô nhiễm môi trường của sông Nhuệ, sông Châu Giang và sông Đáy”, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phùng Đức Tiến cho biết như vậy.

Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Hà Nội Nguyễn Văn Chiến tỏ ra rất quan tâm tới thực trạng ô nhiễm môi trường do xả thải của các làng nghề làm ô nhiễm môi trường các dòng sông. Ông nói, nhân dân đang ngóng chờ vào kết quả dự án cải tạo môi trường các làng nghề cũng như các dòng sông, nhưng cho đến nay vẫn chưa biết đến khi nào sẽ tránh được tình trạng về ô nhiễm. Trong khi đó, đến nay, đã có 10 làng được gọi là làng ung thư của cả nước mà người dân đang rất bức xúc, nhưng tiến độ xử lý thì rất chậm.

Kéo dài đến bao giờ?

Nói về vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường ở lưu vực hệ thống sông Nhuệ, sông Đáy, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cũng nhắc lại một loạt cơ chế để giải quyết vấn đề. Hiện nay, đã có Ủy ban lưu vực sông từ các tỉnh và Việt Nam đã có những đề án được Chính phủ phê duyệt để giải quyết vấn đề ô nhiễm các dòng sông, trong đó có sông Nhuệ và sông Đáy. Tuy nhiên, đến nay, các dự án cấp bách và kể cả các chương trình mục tiêu cũng vẫn chưa được triển khai.

“Lý do, theo tôi nghĩ chúng ta cần phải có xác định, chẳng hạn theo tôi 90% nước thải ra sông Nhuệ, sông Đáy là Hà Nội, 10% từ Hòa Bình, Hà Nam và một số địa phương khác. Như vậy, tại sao phải tính toán dự án này khi không xác định địa phương sẽ đứng ra chủ trì chịu trách nhiệm vấn đề này? Việc đầu tiên tôi muốn nói là cơ chế phân công để làm rõ vấn đề công nghệ và vấn đề huy động nguồn lực”, Bộ trưởng Trần Hồng Hà nói.

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, Hà Nội hiện xả thải khoảng 2 triệu mét khối nước thải sinh hoạt mà chưa thu gom được, hạ tầng thì cũ kỹ, lạc hậu, nước mưa và nước thải đi cùng với nhau. Cùng với đó là khoảng 3 cụm làng nghề cũng có lượng nước thải rất lớn chưa được xử lý. Bởi vậy, muốn giải quyết vấn đề ô nhiễm 2 con sông này, đòi hỏi phải tập trung vào những khu vực có lượng nước thải lớn nhất, tập trung nhất và ô nhiễm nhất. Đó là các làng nghề và các khu vực đô thị đông dân cư.

Vấn đề đặt ra là với cơ sở hạ tầng như Hà Nội hiện nay thì rất khó có cách thức hữu hiệu để thu gom và xử lý nước thải tập trung. Với mô hình phân tán như vậy, phải có công nghệ phân tán và phải có cách thức thu gom nước thải dọc theo bờ sông.

Vấn đề đầu tiên cần phải nhắc đến, đó là tiền đâu để giải quyết vấn đề? Hà Nội hiện đã tập trung xử lý được khoảng gần 1 nửa số vốn cần thiết, trong đó có nguồn vốn từ ngân sách, nguồn vốn vay ưu đãi ODA và nguồn vốn đóng góp của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng chưa thực sự thiết tha tham gia vào lĩnh vực này vì đầu tư hệ thống hạ tầng thu gom nước thải rất tốn kém.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà đưa ra hướng giải quyết là không sử dụng vốn vay ODA để đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp, mà dùng để bù lãi suất mà doanh nghiệp vay ngân hàng, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể tiếp cận các nguồn vốn. Với mô hình này, chỉ trong khoảng 5 năm là Hà Nội có thể xử lý được vấn đề.

Bên cạnh đó, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng nhắc tới việc phải hướng tới ai gây ô nhiễm thì phải trả tiền để xử lý ô nhiễm. Như vậy, tất cả các làng nghề phải xử lý tập trung từ rác thải, nước thải và phải chịu chi phí xử lý.

Mô hình, giải pháp đưa ra đã nhiều. Thậm chí, đề án cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ rất lâu. Nhưng việc triển khai thì luôn luôn ì ạch. Người dân qua hết nhiệm kỳ Quốc hội này đến nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân khác vẫn đều đặn kêu than. Nếu không có giải pháp mang tính đột phá, đặc biệt là chế tài đủ mạnh, chẳng hạn nếu làng nghề nào không xử lý triệt để nguồn nước xả thải ra môi trường thì kiên quyết bắt đóng cửa, thì tình trạng cũng sẽ mãi mãi như vậy. Câu chuyện sẽ lại phải chuyển nguyên trạng cho nhiệm kỳ sau xử lý, trong khi nhiều người dân đã không còn có thể chờ đợi lâu hơn, bởi bệnh tật thì không cho ai thời gian để chờ đợi!

Thúy Hằng / baonhandao.vn