(NĐ&ĐS) – Voi là một biểu tượng linh thiêng của Tây Nguyên. Và Đắk Lắk được coi là thủ phủ voi của Việt Nam. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân tác động, đến nay đàn voi tại Đắk Lắk đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng

Nguy cơ tuyệt chủng

voi
Voi tìm kiếm thức ăn trong rừng. Ảnh: TTXVN

Năm 1980, Đắk Lắk có hơn 550 cá thể voi rừng. Từ năm 2009 - 2013, mỗi năm có khoảng 120 cá thể voi rừng sinh sống trong vườn. Tuy nhiên, hiện trong vườn Yok Đôn còn khoảng 60 - 65 cá thể voi hoang dã.

Đàn voi nhà có số phận càng bi thảm hơn, những năm 80 của thế kỷ trước, số lượng voi nhà tại Đắk Lắk là 502 con. Chỉ tính riêng trong bốn tháng đầu năm 2015, đã có tới 5 con bị chết, trong đó có 1 voi rừng và 4 voi nhà. Đến nay, chỉ còn 43 cá thể được nuôi theo hộ gia đình hoặc làm du lịch.

Theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp, quần thể voi hoang dã ở Việt nam đã giảm khoảng 95% sau 40 năm (1975-2015).  Riêng ở Đắk Lắk, trong vòng 8 năm (2009 – 2016) đã có ít nhất 23 cá thể voi rừng bị chết, so với con số ước tính tổng đàn chiếm khoảng 25%, gần 75% trong số voi chết là voi con dưới một tuổi.

Trước thực trạng voi nhà mất khả năng sinh đẻ, có ý kiến nhận định: Nếu cứ đà này, khoảng 30 năm nữa chắc Tây Nguyên không còn voi.

Nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn voi khẩn cấp ở Đắk Lắk

Đối mặt với nguy cơ voi tuyệt chủng ở tương lai không xa, tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)  đã có  Dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 tại thành phố Buôn Ma Thuột.

images2647411_IMG_1191
Voi rừng ở Tây Nguyên

Dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 được phê duyệt vào tháng 11/2013 với tổng mức đầu tư hơn 84,6 tỷ đồng.

Mục tiêu của dự án nhằm bảo tồn, phát triển bền vững quần thể voi hoang dã và voi nhà; khôi phục, bảo vệ nguồn gen động, thực vật nguy cấp quý hiếm và đa dạng sinh học trong vùng sinh cảnh của voi; ngăn chặn, phòng ngừa hiệu quả xung đột giữa voi với người.

Từ năm 2014 đến nay, Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk đã lập hồ sơ, gắn chip điện tử trên 45/45 cá thể voi nhà, giúp cho việc quản lý và theo dõi sức khỏe của voi thuận lợi; tổ chức 120 đợt khám sức khỏe định kỳ và đột xuất cho voi. Trung tâm đã cử cán bộ tham gia các tập huấn tại các nước về thú y, sinh sản trên voi. Qua đó đã chữa trị được nhiều ca bệnh mà trước đây voi có thể chết do nhiễm trùng đường ruột, bệnh lao

Đối với công tác bảo tồn đàn voi rừng, đã xác định được khoảng 5 đàn voi với khoảng 80 - 100 cá thể vùng phân bố, sinh cảnh sống ổn định của voi trong phạm vi khoảng 173 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở 2 huyện Ea Súp và Buôn Đôn, triển khai cứu hộ thành công nhiều con voi rừng gặp nạn.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về bảo tồn voi cũng được chú trọng góp phần thay đổi nhận thức của người dân trong việc chăm sóc, sử dụng đàn voi nhà theo hướng tích cực, bảo vệ sức khỏe cho voi nhà, tránh xung đột, xâm hại đàn voi rừng.

Theo ý kiến chuyên gia, để công tác bảo tồn voi đạt được hiệu quả cao, thời gian tới, các cấp, ngành có liên quan cần tiến hành điều tra chi tiết, toàn thể quần thể voi hoang dã tại tỉnh Đắk Lắk để làm cơ sở theo dõi quần thể và di biến động của voi hoang dã. Xây dựng và triển khai kế hoạch bảo tồn sinh cảnh voi hoang dã; tiếp cận, học hỏi các phương pháp sinh sản nhân tạo để gia tăng số lượng voi nhà; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo tồn voi; mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo tồn voi.

Các nỗ lực nhằm tăng cường bảo vệ những loài quan trọng như tê giác, voi, hổ, tê tê, ngoài việc đóng góp trực tiếp cho hoạt động bảo tồn các loài động vật này còn mang ý nghĩa biểu tượng, tạo động lực cho việc bảo tồn tất cả các loài động vật hoang dã khác, góp phần ngăn chặn các loại thảm họa thiên nhiên, duy trì các dịch vụ sinh thái quan trọng đối với đời sống và sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng người dân, địa phương, quốc gia và quốc tế. 

Thùy Linh