(NĐ&ĐS) - Một vụ án về tranh chấp đất đai có các tài liệu, tình tiết rõ ràng, vậy nhưng suốt 5 năm nay, TAND huyện Khoái Châu vẫn loay hoay, nhiều lần tạm đình chỉ,… mà chưa thể mở phiên tòa.

Bất thường từ “Biên bản nhượng đất trong gia đình”

Hồ sơ thể hiện, năm 2014 bà Trần Thị Lan (trú tại thôn Hải Yến, xã Quảng Thành, Hải Hà, Quảng Ninh) có đơn khởi kiện ông Dương Cao Sơn (trú tại xã Đại Tập, Khoái Châu, Hưng Yên) đòi lại diện tích đất 200m2 do ông Dương Cao Khoa (chồng bà Lan) đã chuyển nhượng tại xã Đại Tập, huyện Khoái Châu. Đơn khởi kiện của bà Trần Thị Lan được nộp tại TAND huyện Khoái Châu, đã được thụ lý. Theo bà Lan thì việc chuyển nhượng đất giữa chồng bà là ông Dương Cao Khoa cho ông Dương Cao Sơn là trái quy định của pháp luật, bà không hề hay biết.

Cụ thể, ông Dương Cao Sơn xuất trình một “Biên bản nhượng đất trong gia đình” đề ngày 14/07/1994, giữa bên chuyển nhượng là ông Dương Cao Khoa, bên nhận chuyển nhượng là ông Dương Cao Sơn. Đó là mảnh đất 200m2 được UBND xã cấp cho gia đình ông Dương Cao Khoa, nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng ông Dương Cao Khoa và bà Trần Thị Lan. Tuy nhiên, tại “Biên bản nhượng đất trong gia đình” do ông Dương Cao Sơn cung cấp có ghi thành phần những người tham dự, nhưng lại không có tên bà Trần Thị Lan.

khoai-chau
Biên bản nhượng đất trong gia đình mà thành phần tham dự không có bà Trần Thị Lan, và phần "chú thích" có tên bà Trần Thị Lan với nhiều dấu hiệu bất thường

Luật sư Nguyễn Thanh Hoàng, thuộc Đoàn luật sư TP Hà Nội nêu quan điểm: Tại Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 1987, quy định: “ Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng”. Do đó, việc ông Dương Cao Khoa nhượng đất cho ông Dương Cao Sơn mà không có sự bàn bạc, thỏa thuận của bà Trần Thị Lan là một giao dịch vi phạm pháp luật không thể được công nhận.

Một tình tiết đáng quan tâm là cũng tại “Biên bản nhượng đất trong gia đình” đề ngày 14/07/1994 khi ghi các thành phần tham dự không có bà Trần Thị Lan. Nhưng dưới “Biên bản nhượng đất trong gia đình” lại được ghi thêm “Ngày 14/04/1995: Thím Lan ký nhận, Trần Thị Lan”??! Phản ánh với baonhandao.vn, bà Trần Thị Lan bày tỏ sự nghi ngờ về mục đích của phần ghi thêm tên mình trong “Biên bản nhượng đất trong gia đình” này. “Phần ghi thêm có ghi họ và tên của tôi, nhưng không hề có chữ ký; Tôi cũng xác định chữ viết họ và tên tôi trong phần ghi thêm đó không phải do tôi viết, vì trước đó, tôi chưa từng được biết đến “Biên bản nhượng đất trong gia đình” này” – bà Trần Thị Lan bức xúc.

Do đó, bà Trần Thị Lan có đề nghị TAND huyện Khoái Châu trưng cầu giám định chữ viết họ và tên bà trong “Biên bản nhượng đất trong gia đình” đã được ghi thêm và có dấu hiệu giả mạo. Thật bất ngờ là kết luận giám định do TAND huyện Khoái Châu trưng cầu thì xác định chữ viết ghi tên “Trần Thị Lan” trong phần ghi thêm của “Biên bản nhượng đất trong gia đình” và các chữ viết mẫu của bà Trần Thị Lan… là do một người viết ra (!?). Sau đó, bà Trần Thị Lan có đề nghị được giám định lại chữ viết ghi thêm trong “Biên bản nhượng đất trong gia đình”. Khi bà Lan đi giám định tại Trung tâm Tư vấn giám định dân sự,  lại có kết luận hoàn toàn trái ngược với hai kết luận giám định mà trước đó TAND huyện Khoái Châu trưng cầu. Chính vì lý do này, bà Lan đã làm đơn đề nghị TAND huyện Khoái Châu giám định lại, nhưng đến nay chưa nhận được thông báo phản hồi nào về sự việc này.

Thêm một tình tiết đầy nghi vấn trong “Biên bản nhượng đất trong gia đình”, đó là nội dung thể hiện trong Biên bản nhượng đất ngày 14/07/1994 không thống nhất, có sự mâu thuẫn, cụ thể: Số tiền ghi trong biên bản ban đầu là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) thể hiện đã trả ông Khoa nốt vào 27/11/1994 (âm lịch). Sau đó, nội dung đính chính số tiền tăng lên 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) ngày 14/4/1995 ghi đã trả chú thím Khoa. Khó hiểu hơn phần đính chính số tiền tăng thêm 700.000 đồng này chính là nội dung được ghi thêm với dòng chữ “Thím Lan ký nhận, Trần Thị Lan”???

TAND huyện Khoái Châu gặp “khó” hay “câu giờ”?

Luật sư Lại Thị Trang, thuộc đoàn luật sư TP Hà Nội phân tích: Tại khoản 2 Điều 31 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại Uỷ ban nhân dân huyện; ở đô thị làm tại Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. Do đó, đối chiếu với các quy định của pháp luật thì Biên bản chuyển nhượng đất ngày 14/07/1994 được lập và ký kết giữa ông Dương Cao Khoa và ông Dương Cao Sơn với sự chứng kiến của một số người trong gia đình (người làm chứng), hai bên tự thoả thuận và lập biên bản chuyển nhượng không qua thủ tục công chứng thì việc chuyển nhượng đó là không tuân thủ đúng quy định.

Mặt khác, luật sư Nguyễn Thanh Hoàng phân tích thêm: Theo quy định tại điểm a khoản 2.3 mục 2 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 10/8/2004 về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15/10/1993 như sau: a) “…Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây: a.1) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự; a.2) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện; a.3) Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội; a.4) Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003; a.5) Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật; a.6) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”.

Tại điểm b khoản 2.3 Mục 2 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 10/8/2004 về Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15/10/1993 quy định: “b.3) “Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này…. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và hủy phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch”.

Căn cứ vào những quy định trên đây, luật sư Nguyễn Thanh Hoàng phân tích thêm: “Về hiện trạng nhà đất theo biên bản thẩm định tại chỗ và hồ sơ đo đạc thể hiện ông Dương Cao Sơn đã xây dựng nhà, công trình phụ trong phần diện tích 200m2 mua của ông Khoa. TAND huyện Khoái Châu không khó khăn trong việc mở phiên tòa để tuyên “Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lan”, buộc ông Dương Cao Sơn trả lại phần diện tích đất chưa xây dựng nhà, công trình trên đất cho bà Trần Thị Lan”.

Vậy những lý do gì khiến TAND huyện Khoái Châu đến nay chưa mở được phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp đất đai không mấy phức tạp này? Trước đó, vào năm 2018 khi trao đổi với phóng viên, ông Phạm Thế Phương - Thẩm phán TAND huyện Khoái Châu chỉ trả lời rằng, TAND huyện Khoái Châu đang thụ lý, mà không giải thích được vì sao “ngâm” một vụ án kéo dài?

Baonhandao.vn sẽ tiếp tục phản ánh về vụ án này.

Tại Điều 20 Nghị định 45/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng năm 1991 về tổ chức hoạt động công chứng nhà nước quy định: “Ở các huyện, thị xã nơi chưa có Phòng công chứng Nhà nước, Uỷ ban Nhân dân huyện, thị xã thực hiện các việc công chứng sau đây: “Chứng nhận hợp đồng dân sự;..”. Trình tự và thủ tục công chứng hợp đồng (giao dịch) về chuyển nhựng đất được quy định cụ thể hơn tại Khoản 7 mục II thông tư số: 276-TT/CC của Bộ Tư pháp ngày 20/4/1991: “7. Ở các huyện, thị xã nơi chưa có Phòng công chứng Nhà nước, Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã ra quyết định giao cho 1 Phó chủ tịch hoặc uỷ viên của Uỷ ban nhân dân thực hiện công chứng, ký công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân về các văn bản công chứng do mình thực hiện. Thành viên của Uỷ ban nhân dân nêu trên phải có trình độ pháp lý cần thiết và được huấn luyện nghiệp vụ công chứng; Cơ quan tư pháp cùng cấp cử cán bộ chuyên trách có trình độ đại học pháp lý và được huấn luyện nghiệp vụ công chứng để giúp Uỷ ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ công chứng”.

Nguyễn Khuê